Lê Văn Chưởng
Bên cạnh truyện cười, Thừa Thiên Huế còn có một thể loại truyện kể tồn tại độc lập được gọi là giai thoại. Đây là những mẩu chuyện ngắn gọn, vui vui dựa vào những nhân vật, những tình tiết có thật được diễn tả một cách khéo léo, thấp thoáng yếu tố cười. Mục đích của truyện kể là mang lại không khí vui tươi, cái nụ cười tao nhã trong những lúc bạn bè, đồng sang, đồng lứa hội ngộ, hoặc cùng nhau thưởng thức ca hát hay trong những bối cảnh đàm luận văn thơ. Căn cứ vào nội dung có thể chia giai thoại Thừa Thiên Huế ra 4 nhóm đề tài:
a. Giai thoại sinh hoạt hò: Đây là những mẩu chuyện, những tình tiết trong đời sống thực tiễn được kết nối năm ba câu hò để tạo ra nụ cười vui vui, nhẹ nhàng có yếu tố thẩm mỹ. Chẳng hạn như “Giai thoại hai ta vui vẻ”1 kể rằng: Bạn đến nhà chơi, vợ dọn cơm đãi bạn, chồng thấy bát canh phía bạn thịt nhiều hơn bát của mình. Tức giận và nghi ngờ vợ, chàng ghé tai nói nhỏ với vợ: hai ta ly biệt. Chị vợ biết chồng hiểu nhầm, vợ ru con hò rằng:
Nỗi oan xin xét chờ ngờ
Ngọc trầm thủy thượng, anh tìm mà coi.
Anh chồng thử tìm, quả đúng như lời hò, chàng mắc cỡ, nói riêng với vợ: khách ra khỏi nhà, hai ta vui vẻ”.
Giai thoại phản ánh hiện tượng lãng mạn trong giao lưu giữa các nghệ nhân dẫn đến nụ cười tao nhã dễ mến. Đây cũng là sự bộc lộ do ức chế trong cuộc sống đời thường nhiều ràng buộc và cũng là chất nghệ sĩ của nghệ nhân.
b. Giai thoại sân khấu: Các diễn viên sân khấu trong đời thường, đặc biệt là lúc diễn xuất có những tình tiết hành đồng ngồ ngộ trở thành những mẩu chuyện nho nhỏ hay hay, chẳng hạn như cốt truyện giai thoại “Tri huyện choảng nhau với lính lệ”2: Hoàng Tốn đóng vai tri huyện, Liễu đóng vai lĩnh lệ tuồng hài. Liêu người Quảng Bình, làng Kẻ Nại, nói tiếng lơ lớ, Tốn giả giọng hỏi:
- Mạ mi lấy ai Nẹo?
1. Triều Nguyên, Văn Học Dân Gian Hương Phú, tr. 56
2. Tôn Thất Bình, Nụ Cười Xứ Huế, tr. 128
Liêu tức quá trả lời:
- Mạ tau lấy ông nội mi, thằng bán thịt trâu
Tri huyện nghe vậy, quất mạnh roi vào mông lính lệ, lính lệ lấy ghế phang tri huyện. Trống chầu giục dòn dã. Khán giả vỗ tay.
Tình huống lẫn lộn bất ngờ giữa hai nghệ nhân về vai trò con người trong đời thường và trên sân khấu thể hiện vai diễn chưa trút bỏ hết chiếc áo của con người thực. Ngôn ngữ, hành động đời thường bộc lộ trên sân khấu dẫn đến nụ cười ngạc nhiên và thú vị.
c. Giai thoại vua – quan – hoàng tộc: Trong xã hội phong kiến triều Nguyễn khoác chiếc áo vua quan, hoàng tộc được nhân dân kính nể. Nhưng họ cũng là con người nên có những thuộc tính sân, si, hỉ, nộ, … Do vậy, sản sinh giai thoại “Hai bên đều chó”1 Cốt truyện kể rằng: Vua Tự Đức sai Phan Văn Nhã thảo bài văn cho thượng thư Phạm Khải xem, Khải chê: Văn như thế chó cũng làm được. Việc ấy đến tai Tự Đức, vua kêu Cao Bá Quát hỏi. Quát trả lời: Quát đi qua nhà ông Nhã, Nhã gọi Quát, Quát, Quát đến dự tiệc rượu, đầu không biết, đuôi không biết, chỉ thấy đôi bên cãi nhau; bên kia bảo chó, bên nọ cũng bảo chó, bên nọ, bên kia đều chó, chó. Thần thấy nguy, thần sợ, thần chạy.
Do lòng tự tôn và sự khiếm nhã của hai vị quan lớn trong việc bình phẩm văn chương và do cách trả lời vừa thực vừa ngộ nghĩnh của ông Quát đã sản sinh ra nụ cười vừa tao nhã, vừa hồn nhiên, trần tục. Giai thoại phản ánh cái thanh cao và cái tầm thường về bản ngã của con người nên trong nụ cười tao nhã hàm chứa cái thâm trầm.
Cũng dưới thời phong kiến triều Nguyễn có một tầng lớp hoàng tộc thường gọi là mệ. Bên cạnh lối sống vương giả, các mệ cũng có lối sống dân dã nên có ngông ngữ và hành động ngồ ngộ trong giai thoại “Mệ chơi Mệ”2. Cốt truyện kể rằng: Nhà một mệ có giỗ đang ăn uống linh đình. Bỗng có mệ khác không ai mời, tự dưng đến. Mệ gia chủ chào hỏi:
- À yêng, rứa thì yêng đã ăn chi chưa?
- Lòng không, dạ trống đã ăn chi mô.
- Rứa thì yêng về nhà ăn, mai tới chơi hí!
Hai mệ cười xòa và vui vẻ vào ăn cỗ.
1. Tôn Thất Bình, Huế, Những Giai Thoại, tr. 18
2. Tôn Thất Bình, Huế, Những Giai Thoại, tr. 6
Lối nói nửa đùa, nửa thực giữa hai mệ phát xuất từ việc không mời mà đến là yếu tố nghệ thuật toa nhã, lơ lửng mà thâm trầm khi lien tưởng đến câu tục ngữ “ăn có mời mần có mượn”.
d. Giai thoại sáng tác thơ văn: Đây là loại hình giai thoại có tên tác giả, sản sinh dưới triều Nguyễn, một đặc trưng của truyện kể Huế. Nhân vật trong truyện là những con người cụ thể, nhà thơ, nhà văn, hoặc những nghệ nhân trình diễn ca hát. Chẳng hạn như giai thoại “Ca Nam Bình được thưởng tiền”1 của cụ Ưng Bình, Cốt truyện kể rằng: Trong một buổi diễn tập tuồng Lộ Địch2, ông Bát Luân bày ra ca Huế, cô Hữu Hạnh ca bài của Ưng Bình: Vay vay rồi trả… La Cháu bẩm cụ Ưng Bình: Theo lời ca như rứa thì dân Việt Nam nợ dữ quá nên đổi lời ca. Ưng Bình cho là phạm thượng, phạt La Cháu hai roi rồi nói: Mi ca được thì tau thưởng, bằng không thì bị phạt. La Cháu ca: Vay … ư rồi trả, chỉ có một chữ vay. Cụ Ưng Bình mỉm cười và thưởng cho La Cháu hai hào. Sự tinh tế của La Cháu và cử chỉ phục thiện của Ưng Bình mang lại nụ cười nhẹ nhàng, cởi mở, tạo ra sự cảm thụ khoan khoái, phản ánh tính thẩm mỹ của giai thoại.
Giai thoại “Câu đối cho O bán bánh”3 của Nguyễn Khoa Vy thì liên quan đến bối cảnh các cụ đang ăn bánh của O Lý. “Cụ Nguyễn Khoa Vy ra câu đối: O Lý chưa chồng có ý lo. Cả nhóm thi nhân cười mà không đối được”. Giai thoại có tình tiết bất ngờ, sản sinh nụ cười tao nhã bâng khuâng, đưa đến hiện tượng thư giãn của tâm hồn. Truyện kể tuy ngắn nhưng phản ánh một sắc thái nghệ thuật độc đáo.
Các giai thoại trên đây cũng như nhiều giai thoại khác là những mẩu chuyện nho nhỏ, hay hay có thật trong đời thường. Đây chính là những cung bậc, sắc màu của hệ thống giai thoại và cũng chính là lăng kính tâm hồn của nhiều giai tầng trong xã hội và cũng là hương vị của một góc đời sống tinh thần. Nó không khắc khe như nụ cười châm biếm, nó tao nhã, thú vị, lâng lâng.
1. Tôn Thất Bình, Nụ Cười Xứ Huế tr. 62
2. Tuồng Lộ Địch, (diễn theo sự tích tuồng Le Cid của Pierre Corneille) của Ưng Bình, in lần thứ 2, 1959
3. Tôn Thất Bình, Nụ Cười Xứ Huế tr. 72
Nguồn: Tủ sách Nhớ Huế