Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ông đã góp ý cho bài viết “Kinh đô thất thủ và cuộc cướp phá hoàng cung của Pháp xâm lược”. Trong đó, tôi có nhắc qua những áp lực nặng nề của Pháp – qua viên Trú sứ Rheinart, trước khi vua Hàm Nghi lên ngôi (như ông đã trích nguyên văn) – và chỗ ông không đồng tình là “nhận lễ phong vương của Pháp”.
Trong bài viết, tuyệt nhiên tôi không đề cập bất kỳ một chi tiết nào, kể cả tên gọi điện Thái Hòa – nơi đã từng diễn ra những lễ đăng quang – mà vua Gia Long là lần trước nhất. Nhưng đến đời vua Hàm Nghi và sau đó, thì… (!!!)
Vậy nên, tôi không hề nhầm lẫn “lễ phong vương” – mà nghĩa của nó chẳng tốt đẹp gì – “thiên tử phong cho các nước chư hầu” (mà lúc ấy, ta buộc phải nhận quyền bảo hộ của Pháp, e rằng không hơn gì vị trí ấy). Tôi cũng chẳng có chi gọi là làm sai lệch ý nghĩa thiêng liêng trọng đại của buổi lễ đăng quang, thời nước nhà có quyền lực tự chủ (trước năm 1884). Còn sau đó thì… như cụ Phan Bội Châu đã phải gào lên: “Thiên hồ! Đế hồ!” (Trời hỡi! Đất hỡi!) Vì những chính sách của cái gọi là “Đại Pháp”, “Thiên mệnh Đại Pháp”, “Mẫu quốc” (!!!)
Vậy có hay không (nghe ra còn dễ dãi) – mà buộc phải nhận lễ phong vương của Pháp? Xin trưng dẫn vài trích đoạn như dưới đây:
… “Vua Kiến Phúc mất… Tường và Thuyết chọn ông Ưng Lịch mới 12 tuổi lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi. Viên Khâm sứ thấy vậy, viết thư ra Hà Nội. Thống tướng Millot bèn sai chức là đại tá Guerrier đem 600 quân và một đội pháo binh vào Huế, bắt triều đình phải xin phép lập ông Ưng Lịch lên làm vua… Gửi tờ xin phép bằng chữ Nôm sang tòa Khâm sứ, viên khâm sứ không nghe, bắt phải làm bằng chữ Nho. Đến ngày 27/6 (ÂL) đại tá và viên khâm sứ đi cửa chính vào điện Thái Hòa làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi…”
(Trần Trọng Kim “VNSL” nxb Thanh Hóa, trang 571. Cần rõ hơn chi tiết xin đọc từ trang 569…)
Một đoạn viết khác:
… “- Ngày 14/8/1884, Cơ Mật cáo tri việc suy tôn cho đại diện Pháp.
- Ngày 16/8/1884, Rheinart phúc đáp rằng: “Nam triều đã tự chọn một vị tân quân mà không thỉnh cầu trước và được sự chấp thuận của bản chức… Như vậy, việc tuyển lựa ấy coi như vô giá trị… Nếu đúng hẹn mà Nam triều không theo đủ điều kiện ấy, bản chức sẽ dùng tới võ lực (Memoires et Documen Asie quyển 41 trang 376-377. Văn khố Bộ ngoại giao Pháp). Để tán trợ cho thái độ của mình, viên khâm sứ Rheinart đòi, trước khi cử hành mọi nghi lễ phải trao văn thư xin phép lập và tôn ông Ưng Lịch lên làm vua…
- Ngày 18/8/1884, viên Khâm sứ cùng vị chỉ huy quân sự trịnh trọng tiến vào Hoàng cung bằng cửa giữa – từ xưa vẫn dành cho các vị đế vương để chứng kiến lễ phong vương cho vua Hàm Nghi…”
(Nguyễn Xuân Thọ – Nguyễn Ngọc Cư “Cuộc bạo hành tại Huế 5/7/1885…”. Tập san Sử Địa số 14, 15. Khai Trí Sài Gòn 1969).
Tôi còn được biết, một ghi nhận của hầu hết giới sử học, xin ghi lại (ý tóm tắt): Cái chết của vua Kiến Phúc đã tạo cơ hội cho trú sứ Rheinart lập nên tiền lệ – bắt vua ta Hàm Nghi nhận lễ phong vương. Và hơn một năm sau, De Courcy còn đi thêm một bước xa hơn, bắt vua Đồng Khánh thân hành qua tòa Khâm sứ nhận lễ phong vương, rồi mới trở về làm lễ “đăng quang” ở điện Thái Hòa (!!!)
Và thâm thúy, tinh tế hơn cả là câu viết ngắn của Cụ Giáo sư Bửu Kế trong bài “Các nghi lễ của triều đình Huế” đăng trong số “Đặc khảo về phong tục Tết Việt Nam”. Khai Trí Sài Gòn 1967:
… “Lễ có tính cách bất thường nên kể đến lễ Tuyên Phong: vua Tàu phái một viên quan sang phong cho nước ta, trước tại Bắc Hà. Sau ở Huế, trước mặt điện Thái Hòa. Qua đến triều Hàm Nghi và về sau, nền độc lập của ta mất về tay người Pháp, việc phong vương phải có sự chấp thuận của người Pháp, vì có viên Khâm sứ Trung kỳ đọc diễn văn???”
Có khá nhiều nội dung với cách ghi như thế, xét ra không cần đưa cả vào đây. Bấy nhiêu trưng dẫn, xin được trao đổi với ông.
Trân trọng.